Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

Chuyển đổi độ F sang C

1. Dùng Công thức Chuyển Đổi.

Đổi từ
sang
Công thức
Fahrenheit (°F)
Celsius (°C)
°C = (°F – 32) / 1.8
Celsius (°C)
Fahrenheit (°F)
°F = °C × 1.8 + 32

Muốn đổi độ F sang độ C thì trừ đi 32, rồi chia cho 1.8 (hay là nhân với 5 rồi chia cho 9). Ngược lại muốn đổi từ độ C sang độ F thì nhân với 1.8 (hay là nhân với 9, chia cho 5) rồi cộng thêm 32.

2. Dùng "Bảng Chuyển đổi" như dưới đây:

Bảng Chuyển Đổi từ độ Celsius (°C) sang độ Fahrenheit (°F)
C
F
C
F
C
F
C
F
C
F
0.0 
32.0 
10.0 
50.0 
20.0 
68.0 
30.0 
86.0 
40.0 
104.0 
0.5 
32.9 
10.5 
50.9 
20.5 
68.9 
30.5 
86.9 
40.5 
104.9 
1.0 
33.8 
11.0 
51.8 
21.0 
69.8 
31.0 
87.8 
41.0 
105.8 
1.5 
34.7 
11.5 
52.7 
21.5 
70.7 
31.5 
88.7 
41.5 
106.7 
2.0 
35.6 
12.0 
53.6 
22.0 
71.6 
32.0 
89.6 
42.0 
107.6 
2.5 
36.5 
12.5 
54.5 
22.5 
72.5 
32.5 
90.5 
42.5 
108.5 
3.0 
37.4 
13.0 
55.4 
23.0 
73.4 
33.0 
91.4 
43.0 
109.4 
3.5 
38.3 
13.5 
56.3 
23.5 
74.3 
33.5 
92.3 
43.5 
110.3 
4.0 
39.2 
14.0 
57.2 
24.0 
75.2 
34.0 
93.2 
44.0 
111.2 
4.5 
40.1 
14.5 
58.1 
24.5 
76.1 
34.5 
94.1 
44.5 
112.1 
5.0 
41.0 
15.0 
59.0 
25.0 
77.0 
35.0 
95.0 
45.0 
113.0 
5.5 
41.9 
15.5 
59.9 
25.5 
77.9 
35.5 
95.9 
45.5 
113.9 
6.0 
42.8 
16.0 
60.8 
26.0 
78.8 
36.0 
96.8 
46.0 
114.8 
6.5 
43.7 
16.5 
61.7 
26.5 
79.7 
36.5 
97.7 
46.5 
115.7 
7.0 
44.6 
17.0 
62.6 
27.0 
80.6 
37.0 
98.6 
47.0 
116.6 
7.5 
45.5 
17.5 
63.5 
27.5 
81.5 
37.5 
99.5 
47.5 
117.5 
8.0 
46.4 
18.0 
64.4 
28.0 
82.4 
38.0 
100.4 
48.0 
118.4 
8.5 
47.3 
18.5 
65.3 
28.5 
83.3 
38.5 
101.3 
48.5 
119.3 
9.0 
48.2 
19.0 
66.2 
29.0 
84.2 
39.0 
102.2 
49.0 
120.2 
9.5 
49.1 
19.5 
67.1 
29.5 
85.1 
39.5 
103.1 
49.5 
121.1 

Bảng Chuyển Đổi từ độ Fahrenheit (°F) sang độ Celsius (°C)
F
C
F
C
F
C
F
C
F
C
32.0 
0.0 
52.0 
11.1 
72.0 
22.2 
92.0 
33.3 
112.0 
44.4 
33.0 
0.6 
53.0 
11.7 
73.0 
22.8 
93.0 
33.9 
113.0 
45.0 
34.0 
1.1 
54.0 
12.2 
74.0 
23.3 
94.0 
34.4 
114.0 
45.6 
35.0 
1.7 
55.0 
12.8 
75.0 
23.9 
95.0 
35.0 
115.0 
46.1 
36.0 
2.2 
56.0 
13.3 
76.0 
24.4 
96.0 
35.6 
116.0 
46.7 
37.0 
2.8 
57.0 
13.9 
77.0 
25.0 
97.0 
36.1 
117.0 
47.2 
38.0 
3.3 
58.0 
14.4 
78.0 
25.6 
98.0 
36.7 
118.0 
47.8 
39.0 
3.9 
59.0 
15.0 
79.0 
26.1 
99.0 
37.2 
119.0 
48.3 
40.0 
4.4 
60.0 
15.6 
80.0 
26.7 
100.0 
37.8 
120.0 
48.9 
41.0 
5.0 
61.0 
16.1 
81.0 
27.2 
101.0 
38.3 
121.0 
49.4 
42.0 
5.6 
62.0 
16.7 
82.0 
27.8 
102.0 
38.9 
122.0 
50.0 
43.0 
6.1 
63.0 
17.2 
83.0 
28.3 
103.0 
39.4 
123.0 
50.6 
44.0 
6.7 
64.0 
17.8 
84.0 
28.9 
104.0 
40.0 
124.0 
51.1 
45.0 
7.2 
65.0 
18.3 
85.0 
29.4 
105.0 
40.6 
125.0 
51.7 
46.0 
7.8 
66.0 
18.9 
86.0 
30.0 
106.0 
41.1 
126.0 
52.2 
47.0 
8.3 
67.0 
19.4 
87.0 
30.6 
107.0 
41.7 
127.0 
52.8 
48.0 
8.9 
68.0 
20.0 
88.0 
31.1 
108.0 
42.2 
128.0 
53.3 
49.0 
9.4 
69.0 
20.6 
89.0 
31.7 
109.0 
42.8 
129.0 
53.9 
50.0 
10.0 
70.0 
21.1 
90.0 
32.2 
110.0 
43.3 
130.0 
54.4 
51.0 
10.6 
71.0 
21.7 
91.0 
32.8 
111.0 
43.9 
131.0 
55.0 

Thứ Tư, 29 tháng 6, 2011

ALKYD 6402-70

1.      GIỚI THIỆU
Alkyd 6402-70 là loại nhựa alkyd shortoil gốc dầu dừa, thích hợp cho hệ bong NC. Kết hợp với nhựa melamine dùng trong sản xuất sơn hoàn thiện xe hơi, các động cơ điện.
Tính năng
            Khô nhanh
            Tạo màng cứng
            Độ bám dính tốt
2. Ứng dụng
Bóng NC
Sơn trong và sơn màu
3.Khả năng hòa tan
White spirit: hòa tan một phần
Xylene, Toluene, Solvess 100, solvesso 150 : hòa tan
Ethyl acetate, butyl acetate : hòa tan
MIBK : hòa tan
Ethyl alcohol : không tan
Butyl alcohol : hòa tan một phần
4. Khả năng kết hợp với nhựa :
Nhựa alkyd béo : không kết hợp
Nhựa medium oil : không kết hợp
Nhựa alkyd gầy : hoàn toàn
Nhựa melamine : hoàn toàn

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

Epoxy solid 671


  • Đương lượng  Epoxy    475-550
  • Phần trăm Epoxy  7.8-9.1
  • Độ nhớt của dung dịch      160-250
  • Độ nhớt nóng chảy      400-950
  • Nhiệt độ hóa mềm   75-85
  •  Màu       90 max
  • Thời gian tồn tại : 24 tháng
  1. Giới thiệu
  • Nhựa Epoxy  671 rắn là  loại nhựa có trọng lượng phân tử thấp được sản xuất từ epichlorohydrin và bisphenol A
  • Nhựa Epoxy 671 cũng được cung cấp ở dạng lỏng như 671-X75(75% nhựa  pha trong xylene).
  • Dùng chất đóng rắn là polyamide hoặc polyamine, tạo nên lớp nền rất tốt cho nhiều loại coating kháng hóa chất  chất lượng cao.
  • Hệ coating 2 thành phần này dùng cho các ứng dụng được đóng rắn ở nhiệt độ thường và màng sơn tiếp xúc với môi trường ăn mòn có chứa nhiều tác nhân hóa học, dung môi hoặc nước muối.
  • Tạo được tính chống ăn mòn, độ cứng và bám dính tốt với hầu hết các bề mặt cần sơn, tạo độ mềm dẻo thích hợp dùng trong nhiều loại sơn phủ hoàn thiện như : sơn tàu biển, sơn bảo trì dùng trong công nghiệp lớp tráng bên trong bồn chứa
2.Ứng dụng : Sản phẩm này thích hợp dùng trong các ứng dụng:
  • Sơn phủ bảo vệ và sơn tàu biển
  • Sơn cuộn và sơn lon
  • Công nghệ xây dựng
  • Sơn bột

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2011

SURFACTANT - CHẤT HOẠT ĐỘNG BỀ MẶT

Chất hoạt hóa bề mặt (tiếng Anh: Surfactant, Surface active agent) đó là một loại hóa chất mà phân tử của nó gồm hai thành phần: một đầu phân cực (ưa nước) và một đuôi không phân cực (kị nước).
+ Đặc điểm:
Chất hoạt hóa bề mặt được dùng để làm giảm sức căng bề mặt của một chất lỏng. Nếu có nhiều hơn hai chất lỏng không hòa tan thì chất hoạt hóa bề mặt làm tăng diện tích tiếp xúc giữa hai chất lỏng đó. Khi hòa chất hoạt hóa bề mặt vào trong một chất lỏng thì các phân tử của chất hoạt hóa bề mặt có xu hướng tạo đám (micelle, còn được dịch là mixen), nồng độ mà tại đó các phân tử bắt đầu tạo đám được gọi là nồng độ tạo đám tới hạn. 
Nếu chất lỏng là nước thì các phân tử sẽ chụm đuôi kị nước lại với nhau và quay đầu ưa nước ra tạo nên những hình dạng khác nhau như hình cầu (0 chiều), hình trụ (1 chiều), màng (2 chiều). Tính ưa, kị nước của một chất hoạt hóa bề mặt được đặc trưng bởi một thông số là độ cân bằng ưa kị nước (tiếng Anh: Hydrophilic Lipophilic Balance-HLB), giá trị này có thể từ 0 đến 40. HLB càng cao thì hóa chất càng dễ hòa tan trong nước, HLB càng thấp thì hóa chất càng dễ hòa tan trong các dung môi không phân cực như dầu.
+Phân loại:

Tùy theo tính chất mà chất hoạt hóa bề mặt được phân theo các loại khác nhau. Nếu xem theo tính chất điện của đầu phân cực của phân tử chất hoạt hóa bề mặt thì có thể phân chúng thành các loại sau:

**Chất hoạt hóa ion (tiếng Anh: ionic): khi bị phân cực thì đầu phân cực bị ion hóa.

**.Chất hoạt hóa dương: khi bị phân cực thì đầu phân cực mang điện dương, ví dụ: Cetyl trimêtylamôni brômua (CTAB).

**Chất hoạt hóa âm: khi bị phân cực thì đầu phân cực mang điện âm, ví dụ: bột giặt, axít béo.

**Chất hoạt hóa phi ion (tiếng Anh: non-ionnic): đầu phân cực không bị ion hóa, ví dụ: Ankyl poly(êtylen ôxít).

**Chất hoạt hóa lưỡng cực (tiếng Anh: zwitterionic): khi bị phân cực thì đầu phân cực có thể mang điện âm hoặc mang điện dương tùy vào pH của dung môi, ví dụ: Dodecyl đimêtylamin ôxít.

****Ứng dụng: Chất hoạt hóa bề mặt ứng dụng rất nhiều trong đời sống hàng ngày. Ứng dụng phổ biến nhất là bột giặt, sơn, dầu khí...

CHẤT TẨY SƠN

Dung môi tẩy sơn cơ bản hay chất cạo sơn là những dung môi dùng để cạo bỏ lớp sơn cũ. Chúng không phải là một hóa chất duy nhất mà là sự trộn lẫn của nhiều chất khác nhau, mỗi chất có một tác dụng riêng. Các thành phần hoạt hóa thường là một chất được gọi là metylen clorua. 
Một số sản pẩm có chứa các thành phần hoạt hóa khác với metylen clorua, nhưng chúng không hiệu quả lắm trong việc ăn mòn, làm giộp và gây tróc lớp sơn cũ.
Một số hóa chất khác trong chất tẩy sơn có tác dụng tăng nhanh quá trình làm bong, và làm chậm quá trình bay hơi của dung môi, và đóng vai trò như một tác nhân làm giày dung môi (giữ cho dung môi bay hơi chậm hơn).

Chất tẩy sơn tiêu biểu có hai loại, dạng lỏng và dạng nhũ tương. Nhìn chung thì dạng lỏng sẽ tẩy nhanh hơn. Dạng nhũ tương thì tẩy sạch hơn vì nó không bị nhỏ giọt và bám dính lâu hơn, nhất là trên những vật hình trụ hay khi làm việc với bề mặt thẳng đứng.

Thật khó để nói rằng bất cứ một chất hay hỗn hợp các chất có khả năng bám dính cao dùng để bóc lớp sơn cũ, nên phải được lựa chọn cẩn thận. Những dung môi hòa tan cơ bản sẽ tẩy nhanh hơn và không có tác dụng xấu lên bề mặt của gỗ, nhưng chúng có thể có hại đến sức khỏe con người vì vậy nên đọc kỹ hướng dẩn sử dụng của nhà sản xuất trước khi dùng.

Về cơ bản thì có một số điểm lưu ý về an toàn khi sử dụng chất tẩy sơn nhưng không thể thay thế được bản hướng dẫn của nhà sản xuất đối với từng sản phẩm, điều quan trọng là bạn phải đọc lưu ý được in trên nhãn của mỗi sản phẩm.

Hóa chất và các sản phẩm phục vụ đời sống - Một cách nhìn khác

Chúng ta thường nghĩ rằng hoá chất rất độc hại và không nên sử dụng hoặc tiếp xúc với hoá chất. Thế nhưng, cũng cần biết rằng hoá chất cực kỳ hữu dụng và có thể nói, trong thời đại ngày nay, con người không thể sống mà không sử dụng hoá chất và các sản phẩm từ hoá chất. Bài viết này hy vọng sẽ giúp cho người đọc hiểu biết thêm cũng như có một cái nhìn khách quan hơn về hoá chất và cách sử dụng chúng.

Hoá chất có an toàn hay không?

Mọi người thường hiểu “hoá chất” là những sản phẩm làm ra từ các ngành công nghiệp. Thật ra, tất cả đều là “hoá chất”, từ cây cỏ, động vật, đến nước, không khí, muối, tiêu, xăng dầu, nhựa, các sinh tố, thuốc men, các sản phẩm chăm sóc cá nhân và nhà cửa, nước hoa, kim loại, sơn…Do đó, dù từ thiên nhiên hoặc tổng hợp từ công nghiệp, tất cả đều là “hoá chất” và phải tuân thủ các luật lệ về hoá chất.

Đối với hoá chất, thay vì hiểu “an toàn” hay “không an toàn”, nên có khái niệm “nguy cơ”, nghĩa là khả năng xảy ra nguy hiểm hay độc hại trong từng trường hợp cụ thể.
Một số các hoá chất có khả năng gây nguy cơ cao ở cả các điều kiện thông thường, hoặc ở những nồng độ rất nhỏ cũng có thể gây hại, sẽ được cân nhắc trong danh sách “hoá chấtcấm sử dụng”., hoặc chỉ được sử dụng ở dưới nồng độ cho phép nào đó. Mỗi nước, kể cả Việt nam, đều có danh sách này và các doanh nghiệp phải triệt để tuân thủ. May mắn cho chúng ta là các hoá chất đó không nhiều. Đa số các hoá chất khác chỉ có hại nếu vượt qua một nồng độ nào đó, hoặc trong một số điều kiện nào đó. Các cơ quan chức năng với các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu và ban hành những luật lệ để kiểm soát hoá chất và sử dụng chúng mà không bị nguy hiểm, độc hại cho sức khoẻ.

Nguy cơ và lợi ích

Do đó, không nên máy móc cho rằng hoá chất là có hại và không nên sử dụng chúng.
Thí dụ, ai cũng biết xăng dầu có hại cho sức khoẻ (nếu sử dụng không đúng cách) nhưng lợi ích từ xăng dầu thì không ai có thể phủ nhận, và xăng dầu được sử dụng trong rất nhiều lãnh vực. Thuốc men cũng vậy, ngoài ra còn vô vàn các sản phẩm khác được phát minh ra để phục vụ đời sống, làm cho cuộc sống thoải mái, tốt đẹp hơn. Nước hoa, hoặc hương thơm của các sản phẩm mỹ phẩm, ngay cả các sản phẩm tẩy rửa, chăm sóc nhà cửa…đều tạo nên vẻ đẹp cho cuộc sống, làm nhẹ đi sự nặng nhọc trong các công việc hàng ngày, không nên vì một số những lo ngại hoặc cảnh báo không căn cứ mà không sử dụng.
Gần đây, có một số thông tin nói về hoá chất được sử dụng trong nước xả làm mềm vải khiến người tiêu dùng hoang mang, lo lắng, thậm chí một số ngưng sử dụng sản phẩm này. Như vậy, người tiêu dùng đã từ chối những lợi ích rõ rệt mà nước xả làm mềm vải mang lại như làm quần áo mềm mại, hương thơm dễ chịu, chống tĩnh điện, giúp dễ ủi quần áo… khiến chúng ta thoải mái hàng ngày chỉ vì những thông tin không đầy đủ. Chưa kể là, những thông tin này còn gây cho người tiêu dùng nỗi lo ngại về sử dụng hoá chất, hương liệu nói chung trong rất nhiều các sản phẩm hoá mỹ phẩm an toàn được phép lưu hành mà chúng ta đã và đang sử dụng trong đời sống hàng ngày.
 
Lời khuyên cho người tiêu dùng
 
Về góc độ người tiêu dùng, điều quan trọng là phải lựa chọn đúng đắn các sản phẩm để sử dụng, và sử dụng đúng như cách thức đã được chỉ dẫn.
Nên chọn các sản phẩm từ các nhà sản xuất lớn, có uy tín, các tập đoàn toàn cầu, vì các nhà sản xuất này có đủ điều kiện vật chất, cũng như đội ngũ các chuyên gia để nghiên cứu, thiết lập nên công thức của sản phẩm, và đánh giá công thức này vừa tính năng công dụng, vừa độ an toàn khi sử dụng. Ngoài ra, khi đưa vào sản xuất, cũng được theo dõi, kiểm soát chặt chẽ từ khâu nhập nguyên liệu tốt, qui trình sản xuất đúng tiêu chuẩn và kiểm tra chất lượng cho đến khâu phân phối sản phẩm. Để bảo vệ uy tín của mình, các nhà sản xuất lớn thường tuân thủ nghiêm chỉnh các luật lệ đã được đề ra, cũng như có thông tin rõ ràng, có bộ phận tư vấn, chăm sóc khách hàng và có trách nhiệm cao đối với sản phẩm của mình. Sản phẩm cũng được đăng ký chất lượng và kiểm soát bởi các cơ quan chức năng.

Epoxy

Composite là một loại vật liệu được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi nhất trong 10 năm trở lại đây. Do những đặc tính ưu việt của chúng mà ngày nay người ta sử dụng vào hầu hết các lĩnh vực công nghiệp và đời sống.
Composite được chia thành nhiều nhóm loại khác nhau, tuỳ thuộc vào chất phụ gia tăng cường. Nhưng Composite được tăng cường bằng cốt sợi là có ý nghĩa về mặt kinh tế và có tính kỹ thuật cao
Ngày nay vật liệu Composite đã trở nên phổ biến trong đời sống bởi những tính năng tuyệt vời của chúng đã được khai thác và những tính năng mới đang được khai thác ( như là mảnh đất màu mỡ của các nhà khoa học nghiên cứu và chết tạo) .Bởi người ta dễ dàng pha trộn nó với một vài vật liệu đặc biệt và tạo được ra những vật liệu mới có đầy đủ các tính năng mong muốn.
Chúng ta cũng đã biết đến Cao su từ vài thập kỷ trước, ngày nay cao su đã không thể thiếu trong đời sống. Nhưng sở dĩ cao su được ứng dụng rộng rãi như vậy là bởi vì tác dụng của lưu huỳnh đối với cao su thô là rất quan trọng. Lúc đầu cao su thô có cấu trúc phân tử dạng mạch ngắn nên không có được những tính chất quý giá của hợp chất cao phân tử (mạch dài). Lưu huỳnh có tác dụng nối mạch các phân tử cao su thô thành các mạch dài dạng lưới khiến cao su lưu hoá có các tính chất, phẩm chất  mà cao su thô không thể có. Ngày nay để cao su được ứng dụng rộng rãi như săm, lốp …ngoài ra  người ta còn bổ sung vào quá trình lưu hóa đó những hợp kim đặc biệt, hoặc tạo các nền, cốt lõi đặc biệt để cho cao su có được độ dẻo dai, độ bền, độ đàn hồi cơ tính theo mong muốn. Chất Epoxy mà chúng ta đề cập đến ở đây cũng vậy.
Tác dụng của chất đóng rắn đối với epoxy nguyên sinh cũng tương tự như tác dụng của lưu huỳnh với cao su thô vậy. Epoxy nguyên sinh có cấu trúc phân tử dạng mạch ngắn nên không có được những tính chất quý giá của hợp chất cao phân tử. Chất đóng rắn có tác dụng nối mạch các phân tử epoxy nguyên sinh thành các mạch dài dạng lưới khiến nhựa epoxy thành phẩm có các tính chất mà epoxy nguyên sinh không thể có. Xét về bản chất hoá học, các nhóm chức epoxy không thể tự kết nối với nhau nên epoxy phải có chất đóng rắn.
Nhựa epoxy là loại nhựa có nhiều ưu điểm tốt như độ bám dính cao trên bề mặt kim loại, có tính ổn định hoá học, bền hoá chất. Việc sử dụng nhựa epoxy trên nền cốt sợi thuỷ tinh làm tăng tính bền cơ lên đáng kể và rất thích hợp để chế tạo lớp bọc lót bảo vệ thiết bị chống ăn mòn hoá chất. Ngoài ra  Epoxy chính vì rất dễ thêm chất phụ gia để cải thiện chức năng cơ tính, cho nên ngày nay có rất nhiều chất epoxy khác nhau và chiếm lĩnh nhiều lĩnh vực trong đời sống. Như sơn epoxy, nhựa epoxy, tấm lợp, gạch, keo,…
Công nghệ sử dụng epoxy trong đóng thuyền rất là phổ biến trên thế giới đã tạo ra một phương thức mới hoàn toàn mới mẻ và tiết kiệm. Epoxy đã trở thành một lớp màng bảo quản đối với mọi bề mặt vật liệu, từ: xi măng đến sắt gỗ, nhựa..đều có thể dùng epoxy để bảo vệ. Và bởi vì đặc tính ưu điểm vượt trội mà người ta tìm thấy được từ epoxy là: độ bám dính cao với tất cả bề mặt, khi bổ sung các nguyên tố hợp kim thì epoxy là loại keo hai thành phần: thành phần epoxy có khả năng liên kết cao và thành phần hóa rắn có bổ sung các hợp kim đặc biệt và gốm, một số vật liệu còn bổ sung các cốt sợi đặc biệt ... Có thể nói keo epoxy dùng trong công nghệ đóng thuyền là một điều tuyệt vời, một sự mầu nhiệm. Loại keo này có thể thấm sâu, có thể cán mỏng và che phủ bề mặt của gỗ không cho không khí và hơi ẩm bất kỳ một cơ hội nào. Điều đó cũng có nghĩa là gỗ sẽ không có mối, mọt, và không bị mục, bởi vì không khí và nước – hai tác nhân chính làm cho gỗ mục đã bị chặn đứng. Epoxy còn tuyệt vời ở chổ, chúng ta có thể dùng nó với sợi thủy tinh, sợi basalt, và sợi carbon. Với sợi thủy tinh, ta có thể bọc vỏ thuyền, boong thuyền còn với sợi basalt và sợi carbon, ta có thể bọc những nơi chịu lực mạnh như cột buồm, bánh lái, trụ cột dây …Ngay cả đối với thuyền và tàu thủy vỏ sắt và vỏ nhôm, người ta cũng bọc chúng bằng Epoxy để chống sét và chống ăn mòn. Sau khi bọc vỏ thuyền bằng keo Epoxy, người ta phủ lên một lớp sơn lót Epoxy, rồi kết thúc bằng những loại sơn bóng giống như loại sơn Epoxy dùng cho xe hơi, và kết quả sẽ là một con thuyền với bề mặt bóng loáng như một chiếc xe hơi thật sự.